Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Những khác biệt của truyền thống pháp luật Common Law với truyền thống pháp luật Việt Nam


Hệ thống Common Law (hay thông luật) bắt nguồn từ Vương quốc Anh, “bắt đầu từ khi Guillaume le Conquérant, Công tước xứ Normandie, lên ngôi Hoàng đế nước Anh năm 1066” [1] và phát triển tại đây từ khoảng một thiên niên kỷ trước; về sau nó được sử dụng ở Hoa Kỳ và các quốc gia từng là thuộc địa của Anh (mặc dù ngày nay đã có những sự khác biệt nhất định). Hệ thống Common Law được đặc trưng bởi pháp luật Anh - Mỹ, có tư cách là một họ pháp luật lớn trên thế giới.
 
Việt Nam là quốc gia có lịch sử lập quốc lâu đời, song pháp luật Việt Nam không phải là một hệ thống pháp luật riêng biệt. Trải qua hàng nghìn năm bị đô hộ bởi Trung Hoa, sau này là Pháp, rồi trở thành một thành viên trong khối xã hội chủ nghĩa, pháp luật Việt Nam lần lượt bị ảnh hưởng bởi pháp luật của các triều đại Trung Hoa, của Pháp, sau cùng bị ảnh hưởng đặc biệt bởi truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ Liên Xô. Ngày nay, hệ thống pháp luật Việt Nam có đặc trưng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa kết hợp những yếu tố ngoại lai do quá trình hội nhập kinh tế với phương Tây kể từ thời kỳ đổi mới [2].
Như vậy, so sánh hai hệ thống pháp luật này là so sánh giữa một nền pháp luật đặc trưng, lâu đời với một nền pháp luật du nhập ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạng xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi xin đưa ra sự so sánh dựa trên một số tiêu chí như sau:
Thứ nhất, quan niệm về pháp luật
Quan niệm pháp luật của truyền thống Common Law nằm ở trong chính thuật ngữ Common Law (tức là án lệ). “Nước Anh không bao giờ tiếp thu quan điểm của Cách mạng Pháp cho rằng quyền lực của thẩm phán phải được kìm hãm, rằng họ cần bị hạn chế nghiêm ngặt chỉ áp dụng pháp luật mà cơ quan lập pháp công bố” [3]. Nước Anh có vị trí địa lý là một hòn đảo tách biệt khỏi lục địa Châu Âu, do phải đối mặt với những thách thức từ khí hậu tự nhiên, cuộc sống trên đảo nhiều bất ổn đã dẫn đến tư duy pháp lý linh hoạt, coi trọng việc giải quyết các vấn đề từ thực tiễn cuộc sống. Do vậy, tất cả các quy phạm được Tòa án công nhận và áp dụng đều được xem là nguồn của pháp luật. Pháp luật sinh ra từ chính cuộc sống và được thể nghiệm bởi các thẩm phán.
Ở Việt Nam và các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, lấy học thuyết Mác - Lênin làm nền tảng phát triển cho toàn xã hội, trong đó có lĩnh vực pháp lý. Pháp luật là sự thể chế hóa đường lối của chính trị, công cụ của giai cấp thống trị dùng để đảm bảo cho lợi ích kinh tế và giữ vững nền chuyên chính. Trong quan điểm này, luật không thể sinh ra từ khu vực “tư”, đó là một luận điểm của Lênin. Khẳng định theo Lênin rằng: “Mọi pháp luật đều là luật công, đó chỉ là một phương thức khác thể hiện tư tưởng: Mọi quan hệ pháp lý đều tuân theo tư tưởng chính trị và quy phạm pháp luật không thể là sự phản ánh cho những nguyên tắc công lý tiêu biểu cho chúng” [4]. Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi hệ tư tưởng trên, pháp luật Việt Nam là sự thể chế hóa các chính sách của Đảng cộng sản cầm quyền.
Thứ hai, các đặc trưng pháp lý
- Cơ quan ban hành luật
Nhiều luật gia cho rằng, hệ thống thông luật bao gồm những điều luật bất thành văn do thẩm phán lập ra; nhưng nói thông luật là luật bất thành văn thì không đúng. Ở Hoa Kỳ ngày nay, phần nhiều luật pháp được lập ra bởi cơ quan lập pháp. Cũng cần lưu ý rằng, nhiều đạo luật ở Hoa Kỳ là sự pháp điển hóa từ những tiền lệ pháp trước đó. Bản thân những phán quyết của Tòa án giải thích cho Hiến pháp và cho các đạo luật của cơ quan lập pháp cũng trở thành nguồn luật. Quan niệm hệ thống pháp luật Common Law bao gồm những điều luật của thẩm phán làm ra cũng có phần đúng. Những lập luận trên cho thấy, vai trò thiết yếu của các thẩm phán trong việc thiết lập nên hệ thống quy phạm Common Law.
Việc ban hành Hiến pháp và các đạo luật ở Việt Nam thuộc thẩm quyền của Quốc hội (Điều 70 Hiến pháp năm 2013). Bên cạnh đó, các cơ quan khác như Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án cũng có quyền ban hành những văn bản có tính chất luật (được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008). Điều này có căn nguyên bởi cơ chế tập quyền Quốc hội, là nơi tập trung quyền lực lớn nhất (về nguyên tắc) sẽ có quyền thiết lập hệ thống pháp luật cho quốc gia và áp dụng các đạo luật do Quốc hội ban hành là yêu cầu bắt buộc đối với thẩm phán trong quá trình xử án.
- Thủ tục xét xử
Tư tưởng linh hoạt và thực tế khiến thủ tục xét xử của hệ thống Common Law coi trọng việc tranh tụng tại phiên tòa. Nó trái ngược với hệ thống xử án của Việt Nam coi trọng tính thẩm vấn (xét - hỏi). Các thẩm phán của Anh - Mỹ không tham gia vào việc xét hỏi trên phiên tòa, việc tranh tụng là do các luật sư của Nhà nước và luật sư bào chữa cho thân chủ của họ thực hiện, sau cùng các thẩm phán và bồi thẩm đoàn sẽ ra phán quyết dựa trên những chứng cứ và lập luận của hai bên. Ở Việt Nam, việc xét - hỏi do thẩm phán thực hiện, cáo buộc người phạm tội (các tội hình sự) là do Viện kiểm sát (đồng thời là cơ quan kiểm sát tư pháp), các luật sư chỉ thực hiện tranh tụng dựa trên cơ sở những chứng cứ tự thu thập được.
- Nền pháp chế
Dựa trên nền tảng tư duy rất khác biệt, các quy tắc pháp lý ra đời nhằm cung cấp các giải pháp cho các trường hợp cụ thể. Đối với truyền thống của người Anh, họ luôn coi trọng kinh nghiệm, ít giáo điều và tin vào tiền lệ. Các quy tắc của Common Law được hình thành từ các quy tắc xã hội, cũng có sự vận động khi thực tiễn thay đổi thông qua các giải thích của Tòa án. Về căn bản, nền pháp chế của Common Law dựa trên sự coi trọng tiền lệ pháp, thông qua ý thức hệ. “Luật không phải được làm ra mà được phát biểu bởi những người quen biết với tập quán và hiểu biết tập quán trong một lãnh thổ nhất định” [5]. Do vậy, hệ thống Common Law được đặc trưng bởi án lệ và tập quán dân sự.
Nền pháp chế của Việt Nam được gọi tên “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, coi trọng việc lấp đầy các lỗ hổng pháp lý bằng quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi sự thống nhất cao độ hay tính pháp điển của hệ thống các quy phạm thành văn. Cơ quan thực thi pháp luật và xét xử bắt buộc phải tuân thủ các quy tắc pháp lý định sẵn, do vậy tính sáng tạo trong các cơ quan này rất hạn chế. Sau cùng, nó đòi hỏi tất cả công dân và các cơ quan nhà nước đều phải tuân thủ nền pháp luật được làm ra bởi cơ quan lập pháp. Nền pháp chế Việt Nam mang đặc trưng lý tưởng của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhưng bị khập khiễng bởi tư duy lập pháp hay thay đổi cộng với nền tư pháp thiếu độc lập.
Thứ ba, nguồn của luật
Common Law là hệ thống pháp luật được tạo nên bởi các thẩm phán, là người giải thích và tuyên bố luật, đồng thời xác định đâu là nguồn của luật. Bản thân Common Law cũng là nguồn trong hệ thống Common Law. Căn bản tư duy dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và tập quán, Common Law coi trọng luật được làm ra từ Tòa án. Ngoài ra, Luật (luật văn bản lập pháp) cũng có vai trò bổ sung đối với hệ thống pháp luật sẵn có; các nguồn pháp luật khác như các học thuyết pháp lý, nguyên tắc công bằng (equity) cũng được ghi nhận và áp dụng khi cần thiết. Việc ban hành các văn bản lập pháp thuộc thẩm quyền của Nghị viện; ngoài ra Nghị viện có thể ủy quyền lập pháp cho nhà vua, các bộ trưởng, chính quyền địa phương. Việc ủy quyền lập pháp phải nằm trong các giới hạn mà luật định. Với tư cách là nguồn gốc của pháp luật nước Anh, tập quán vẫn được coi trọng trong Common Law nhưng không bị bắt buộc áp dụng. Trong quá trình áp dụng, tập quán phải thể hiện tính chắc chắn, được nhiều người khẳng định và tin cậy, sau cùng phải đạt sự hợp lý trong điều kiện mỗi địa phương. Các học thuyết pháp lý ít được coi trọng trong Common Law, tuy nhiên tùy từng trường hợp nó có thể được trích dẫn bởi tính hấp dẫn và sự sâu sắc của các luật gia.
Dựa trên nền tảng của hai yếu tố: “Công hữu hóa tư liệu sản xuất và sự thiết lập chính quyền nhân dân” [6], pháp luật xã hội chủ nghĩa thiết lập các hình thức pháp luật thông qua kỹ thuật lập pháp. Pháp luật Việt Nam cũng bị chi phối bởi nền tảng trên để xây dựng nguồn pháp luật của mình. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay về nguyên tắc chỉ coi văn bản quy phạm pháp luật là nguồn duy nhất và “là hình thức pháp lý tiến bộ nhất” [7] so với các loại nguồn luật khác. Có thể dẫn ra mấy lý do như sau: Một là, sự coi trọng nguyên tắc tập trung quyền lực vào Quốc hội dẫn đến thiết lập thẩm quyền tối cao về lập pháp cho cơ quan này; Hai là, bị ảnh hưởng bởi truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa không công nhận án lệ là một nguồn chính thức; Ba là, năng lực của các thẩm phán không hội đủ điều kiện để xây dựng nguồn luật từ án lệ.
Như vậy, ngoài những đặc thù của chế độ chính trị, việc Việt Nam không coi luật án lệ là một nguồn luật cũng bắt nguồn từ những nguyên nhân thực tế của một nền tư pháp ít được tin cậy. Hệ thống văn bản do Quốc hội và các cơ quan khác ban hành vẫn chiếm lĩnh một vị trí trọng yếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian tới.
Thứ tư, vai trò của tư pháp
Không chỉ Common Law coi trọng việc xây dựng hệ thống tư pháp mạnh và độc lập, các quốc gia khác theo truyền thống Civil Law như Pháp, Đức cũng tập trung cho một cơ quan tư pháp mạnh, đủ đáp ứng được nhu cầu cũng như sức ép từ các thế lực khác. Mặc dù áp dụng thể chế tam quyền phân lập cứng (Hoa Kỳ) hay mềm dẻo (Vương quốc Anh) thì tư pháp vẫn được đáp ứng các điều kiện để có thể độc lập trong các phán quyết của mình. Tại Hoa Kỳ, kể từ sau phán quyết của John Marshall năm 1803 về vụ Marbury kiện Madison, ông đã thiết lập sự cân bằng trên thực tế của tư pháp với hai ngành quyền còn lại, khẳng định Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp và kiểm soát hành vi của Chính phủ. Theo truyền thống phương Tây, quyền tư pháp được giao cho các thẩm phán độc lập (quy định tại Điều III Hiến pháp Liên bang năm 1787). Theo truyền thống Common Law, thẩm phán không phải là thẩm phán chuyên nghiệp, không nhất thiết thẩm phán phải được bổ nhiệm từ những luật gia, thẩm phán giữ chức vụ suốt đời. Như vậy, người Mỹ đã vận dụng cả việc phân lập cấu trúc bộ máy lẫn việc tuyển lựa kỹ càng các thẩm phán để tạo ra một cơ chế xét xử độc lập cao với chính quyền và cả dư luận.
Ở nước Anh ngày nay không tạo lập một cơ chế phân quyền cứng như Mỹ, hệ thống tư pháp ở Anh có hai đặc điểm nổi bật: Một là, đội ngũ cán bộ tư pháp thống nhất, các luật gia và thẩm phán đều được đào tạo như nhau. Hai là, cơ chế phân chia Tòa án sơ cấp và Tòa án cao cấp, chỉ các Tòa án cao cấp mới có thẩm quyền xét xử chung và được hưởng một quy chế đặc biệt đảm bảo sự độc lập và uy tín của thẩm phán; từ những năm 1990 thì thẩm quyền chung đã được trao cho một số Tòa án sơ cấp. Thẩm phán của các Tòa án cao cấp chỉ bị bãi miễn khi có yêu cầu của cả Thượng viện và Hạ viện, thẩm phán của các Tòa sơ cấp chỉ bị bãi miễn trong trường hợp phạm lỗi nghiêm trọng [8].
Hệ thống tư pháp ở Việt Nam được đặc trưng bởi hai cơ quan là Tòa án (cơ quan xét xử) và Viện kiểm sát (cơ quan công tố và giám sát tư pháp). Cả Tòa án và Viện kiểm sát đều được tổ chức dựa trên sự phân cấp lãnh thổ hành chính. Có Tòa án tối cao và Tòa án cấp cao cho toàn quốc gia, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện tương ứng với các cấp hành chính, ở cấp hành chính thấp nhất (cấp xã) không tổ chức Tòa án. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội; chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội thẩm do Luật Tổ chức tòa án quy định. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việt Nam cũng ghi nhận về yêu cầu độc lập của tư pháp trong cả Hiến pháp, nhưng thực tế tổ chức bộ máy tư pháp và cách tuyển lựa thẩm phán hiện nay dẫn đến tư pháp là một ngành vừa yếu, lại vừa thiếu, do đó, yêu cầu về sự độc lập của tư pháp chỉ minh chứng trên quy định.
Sự khác biệt lớn giữa Common Law và hệ thống pháp luật Việt Nam là đảm bảo một thiết chế tư pháp độc lập, đây là căn nguyên của một hệ thống pháp luật có chất lượng. Bởi bản thân các đạo luật sẽ không thể trở thành luật và không đem lại công bình nếu không thông qua sự phán quyết của các vị quan tòa công minh.
Thứ năm, vấn đề bảo hiến
Bảo hiến không đơn thuần là kiểm tra xem một văn bản pháp luật có trái với Hiến pháp không? Thông qua việc kiểm hiến sẽ kiểm soát các hành vi của Chính phủ, thậm chí là hành vi của nhà lập pháp. Việc bảo hiến hiệu quả sẽ bảo vệ được dân chúng trước hành vi lạm dụng quyền lực của chính quyền cũng như tạo được hệ thống các văn bản thống nhất, đảm bảo quyền lợi của các bên trong quan hệ pháp luật. Hướng đến một cơ chế kiểm hiến hiệu quả là hướng đến một hệ thống pháp luật đề cao pháp quyền, đề cao các giá trị con người và một nhà nước hiệu quả.
Ở Việt Nam hiện không có tố tụng hiến pháp, mặc dù có một vài thiết chế kiểm soát pháp luật từ Quốc hội nhưng không phát huy tác dụng. Một hệ thống pháp luật có số lượng văn bản khá đồ sộ, khoảng 13.500 văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực thi hành [9] và được bổ sung hàng ngày bởi tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành luật. Việc thiếu một cơ chế kiểm hiến vì bất cứ lý do gì cũng đang làm cho trật tự pháp lý gặp phải những bất cập như truyền thông đưa tin, tạo nên những phản ứng không tốt từ phía xã hội. Việt Nam đã xây dựng quy trình tố tụng trong các lĩnh vực về dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế, lao động, nhưng tố tụng Hiến pháp thì vẫn chỉ là kết quả nghiên cứu của các nhà luật học. Việc ban hành chồng chéo hay lẫn lộn về thẩm quyền vẫn đang hàng ngày diễn ra mà không hứa hẹn sẽ được chấm dứt khi nào là một thiệt hại rất lớn cho xã hội, cả về phương diện tư duy lập pháp.
Hiến pháp ở Anh là sự tổng hợp tất cả các yếu tố pháp lý có tính ổn định cao, cộng với một cơ chế tố tụng chặt chẽ đã giúp cho hệ thống pháp luật hiệu quả và dân chủ. Hoa Kỳ là một hình mẫu về cơ chế kiểm hiến, chức năng kiểm hiến được trao cho Tòa án các cấp, việc kiểm hiến được đặc trưng bởi các vụ việc cụ thể và đảm bảo thi hành phán quyết của Tòa án nghiêm minh.
Sự khác biệt đặc trưng giữa Common Law và truyền thống pháp lý Việt Nam không nằm ở việc có thiết lập Tòa án Hiến pháp hay không, mà ở tư duy tôn trọng trật tự pháp lý và thiết lập cơ chế tố tụng hiệu quả bởi bộ máy tư pháp độc lập, nghiêm minh. Đem ra vài sự so sánh trên đây để hy vọng sự thay đổi và sự cải cách mạnh mẽ của toàn xã hội trong một tương lai gần.
Nguyễn Quang Đức
Khoa Luật - ĐH Quốc gia Hà Nội
Chú thích:
[1] Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.130.
[2] Đổi mới là một chương trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 80. Chính sách đổi mới được chính thức thực hiện từ Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6, năm 1986. Như vậy, thuật ngữ đổi mới trong bài viết có thể được hàm nghĩa về thời gian là năm 1986.
[3] Peter J. Messitte, Hệ thống thông luật so với hệ thống luật Châu Âu lục địa, Phương thức hoạt động của Tòa án Hoa Kỳ, Nxb. Văn hóa - Thông tin, tr.42.
[4] Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, tr.208.
[5] Bài giảng của PGS.TS. Ngô Huy Cương, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội.
[6] Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, tr.166.
[7] Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.83.
[8] Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.137.
[9] Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam, Trung tâm tin học Văn phòng Quốc hội.

HOA KỲ: PHÁ SẢN THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT DUY NHẤT Ở TÒA ÁN LIÊN BANG

Xin mạn phép trình bày những thông tin dưới đây do Leonidas Ralph Mecham, Giám đốc Văn phòng Hành chính các Tòa án Hoa Kỳ đã đưa ra trong tài liệu “Hiểu biết về các Tòa án Liên bang” được xuất bản cách đây 10 năm và đang có hiệu lực ở Hoa Kỳ.

Thẩm quyền chung của tòa án liên bang Hoa Kỳ

Nhìn chung thì các Tòa án Liên bang giải quyết các vụ việc có liên quan đến chính phủ Hoa Kỳ, hiến pháp Hoa Kỳ hay các luật của liên bang, hoặc các vụ kiện giữa các tiểu bang hay giữa Hoa Kỳ với các chính phủ nước ngoài. Một vụ việc được xem là sự cố liên bang có thể được thụ lý ở tòa án liên bang, chẳng hạn như một cá nhân khiếu kiện về vấn đề tiền bạc liên quan đến an sinh xã hội trong một chương trình của chính phủ liên bang; hoặc chính phủ kiện ai đó đã vi phạm luật liên bang, hoặc do những hành động phản đối nào đó của một cơ quan thuộc liên bang.

Vụ việc cũng có thể được tòa án liên bang thụ lý dựa trên “tính đa dạng về quyền công dân” của các nguyên đơn, như giữa công dân của các tiểu bang khác nhau, hay giữa công dân Hoa Kỳ với công dân nước khác. Để bảo đảm sự công bằng cho nguyên đơn ở ngoài tiểu bang, hiến pháp Hoa Kỳ cho tòa án liên bang xem xét vụ việc đó. Giới hạn quan trọng đối với thẩm quyền xét xử vụ việc là chỉ khi nào thiệt hại tiềm năng hơn 75.000 đô- la thì tòa án liên bang mới thụ lý. Dưới mức đó hoặc không liên quan gì với tiền bạc thì sẽ do tòa án tiểu bang giải quyết. Mặc dù các tòa án liên bang có mặt ở khắp các tiểu bang, nhưng các tòa án tiểu bang lại có thẩm quyền với hầu hết các vụ việc khác, như vấn đề ly hôn, cấp dưỡng trẻ em, các vụ hình sự, tranh chấp hợp đồng, hòa giải và di sản thừa kế, bất động sản, vấn đề vị thành niên, vi phạm luật giao thông, gây thương tích cá nhân. Ngoài ra, một số tranh chấp pháp lý khác có thể được giải quyết ở các tòa án đặc biệt hay các cơ chế hành chính liên bang hoặc thuộc ngành tư pháp, thì do các cơ quan hành chính liên bang hoặc tiểu bang tiến hành.

Tuy nhiên đối với vấn đề phá sản, thì Quốc hội xác định đây thuộc về thẩm quyền riêng của các tòa án liên bang; có nghĩa là một vụ phá sản không thể được thụ lý bởi tòa án tiểu bang. Chúng ta thử tưởng tượng trong hoàn cảnh hàng triệu người thất nghiệp do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, ở Hoa Kỳ hẳn phải có hàng chục ngàn doanh nghiệp lớn nhỏ phá sản hay giải thể, và sự bận rộn của các tòa án liên bang Hoa Kỳ sẽ biết dường nào. Nhưng cấu trúc hợp lý của hệ thống tòa án của Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho ngành tư pháp của họ hoạt động hữu hiệu. Thông qua thủ tục phá sản, các cá nhân hay doanh nghiệp không có khả năng chi trả cho chủ nợ có thể tìm ra cơ hội thanh lý tài sản của mình hay họ có thể tổ chức lại hoạt động tài chính và thực hiện kế hoạch trả hết các khoản nợ của mình.

Sơ lược cấu trúc của hệ thống Tòa án Liên bang Hoa Kỳ

Để thực hiện thẩm quyền xét xử của mình, hệ thống tòa án liên bang Hoa Kỳ đã được Quốc hội thiết lập thành hai cấp tòa án liên bang đặt dưới Tòa án Tối cao, gồm các tòa án sơ thẩm (xem xét hầu như tất cả vụ việc liên bang cả về dân sự lẫn hình sự) và các tòa án phúc thẩm. Hoa Kỳ có 94 hạt tư pháp (judicial district) thuộc liên bang, ít nhất mỗi tiểu bang là một hạt tư pháp và riêng một hạt cho Columbia và Puerto Rico. Mỗi hạt đều có một tòa phá sản, là một đơn vị thuộc tòa án sơ thẩm liên bang của hạt. Riêng ba vùng lãnh thổ Virgin Islands, Guam, và quần đảo Bắc Mariana có các tòa án của hạt để xem xét các vụ việc về liên bang, bao gồm phá sản.

94 hạt tư pháp được chia thành 12 vùng kinh lý (regional circuit), mỗi vùng có một tòa án phúc thẩm. Tòa án phúc thẩm xem xét các kháng cáo từ các tòa án của hạt trong vùng cũng như các kháng cáo từ các quyết định của các cơ quan hành chính liên bang. Ngoài ra, tòa án phúc thẩm của vùng còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm mang tính toàn quốc đối với các vụ việc đặc biệt liên quan luật sáng chế (patent laws) và các vụ việc đã được quyết định bởi Tòa Thương mại Quốc tế và Tòa Khiếu kiện liên bang (US Court of Federal Claims), cũng là hai loại tòa án sơ thẩm.
Thủ tục tố tụng đối với các vụ án phá sản

Mục đích cơ bản của Luật Phá sản Hoa Kỳ (LPSHK) là cho con nợ lương thiện một cơ hội làm lại từ đầu bằng cách làm nhẹ gánh nặng cho con nợ đối với hầu hết các khoản nợ, và giúp họ tuần tự trả cho các chủ nợ bằng tài sản có sẵn cho việc chi trả.

Thường thì một vụ án phá sản bắt đầu bằng việc con nợ nộp đơn ở tòa phá sản. Đơn do một cá nhân, một đôi vợ chồng, một công ty, hay một cơ quan nộp ở tòa. Đơn yêu cầu có sẵn ở văn phòng thư ký các tòa phá sản hay ở các cửa hiệu văn phòng phẩm. Có một loạt các phí nộp đơn cho vụ phá sản, tùy thuộc vào chương nào của luật phá sản mà đơn đề nghị. Phổ biến nhất là nộp đơn cá nhân (Chương 7, LPSHK) để xin thanh lý toàn bộ tài sản của con nợ, cũng như việc thanh toán hầu hết các khoản nợ, thì mức phí nộp đơn cho trường hợp này là 175 đô-la.

Tòa sẽ yêu cầu con nợ nộp bảng cân đối tài chính, liệt kê tài sản, thu nhập, chứng từ có giá, tên và địa chỉ  của tất cả chủ nợ với khoản nợ kèm theo. Làm thế này sẽ ngăn chặn việc xiết nợ, các chủ nợ không thể kiện cáo, đòi lương, hay ngay cả gọi điện thoại đòi tiền. Thư ký tòa án sẽ gởi thư báo cho các chủ nợ cho biết là con nợ đã nộp đơn ở tòa phá sản. Ở một số vụ phá sản con nợ được phép tổ chức lại sản xuất kinh doanh và lập kế hoạch trả nợ, trong khi một số vụ thì giải quyết việc thanh lý tài sản của con nợ. Có nhiều vụ phá sản mà bất động sản của con nợ không đủ trả cho các chủ nợ, mà chỉ đủ để thanh lý tài sản cho khách tiêu dùng cá nhân. Kết quả là ít xảy ra bất đồng hay tranh chấp, và con nợ thường được giúp thoát khỏi hầu hết các khoản nợ mà không gặp phải sự đối kháng. Điều này cũng đồng nghĩa rằng con nợ không còn uy tín cá nhân để trả nợ.

Tuy nhiên, trong các vụ án phá sản khác thì các tranh chấp về yêu cầu nổi lên ở tòa phá sản khi con nợ có tài sản, sử dụng tài sản đó thế nào, giá trị tài sản đó bao nhiêu để trả cho một khoản nợ, liệu con nợ có thoát khỏi một số khoản nợ nào không, hay phải trả bao nhiêu tiền cho luật sư, kế toán, kiểm toán, hoặc các nhà chuyên môn khác. Sẽ có nhiều cách khác nhau như điều tra khám phá, tiền tố tụng, dàn xếp hòa giải, và xét xử sơ thẩm như trong tố tụng dân sự để giải quyết vụ án phá sản.

Năm dạng vụ việc ở tòa phá sản

- Thanh lý tài sản (Điều 7, LPSHK): Một ban quản lý sẽ được chỉ định để trông coi tài sản của con nợ vì lợi ích của các chủ nợ. Tuy nhiên con nợ được phép giữ lại một số tài sản ngoại lệ có giới hạn theo luật, còn lại phần lớn được ban quản lý bán đi để phân cho các chủ nợ theo thủ tục mà luật phá sản quy định.

- Điều chỉnh nợ cá nhân (Điều 13, LPSHK): Con nợ được phép giữ lại tài sản của mình, nhưng phải trả lại cho chủ nợ làm nhiều lần từ các thu nhập tương lai của mình. Tòa yêu cầu con nợ trình duyệt kế hoạch về cách thức và thời gian thanh toán nợ. Một ban quản lý được chỉ định, và một phần thu nhập của con nợ được trả cho ban quản lý để trả cho chủ nợ.

- Tổ chức lại sản xuất kinh doanh (Điều 11, LPSHK): Cơ hội sản xuất kinh doanh được đưa ra để doanh nghiệp tổ chức lại nhằm giải quyết vấn đề tài chính. Con nợ được phép tiếp tục hoạt động dưới sự giám sát của tòa án.

- Điều chỉnh nợ của hộ nông dân (Điều 12, LPSHK): Tương tự như việc điều chỉnh nợ cá nhân, ngoại trừ một số đặc điểm chỉ có ở gia đình nông dân.

- Điều chỉnh nợ của vùng đô thị (Điều 9, LPSHK): Quy định cho đơn vị hành chính như thành phố, thị trấn, hay quận, cơ quan công quyền, hay thiết chế khác của tiểu bang.

Ở hầu hết các tòa phá sản, kháng cáo lại quyết định của thẩm phán có thể được trình lên tòa án hạt. Tuy nhiên, một số tòa án phúc thẩm đã lập Hội đồng phúc thẩm phá sản bao gồm 3 thẩm phán để xem xét kháng cáo. Như thế, bên thua thiệt có thể gởi kháng cáo lên tòa án phúc thẩm. Luật sư kháng cáo và Hội đồng thẩm phán sẽ tranh luận tập trung vào các nguyên tắc pháp lý trong tranh chấp, mỗi bên có khoảng 15 phút để trình bày quan điểm. Quyết định của tòa án phúc thẩm thường là phán quyết cuối cùng, trừ phi tòa gởi ngược vụ án về tòa án sơ thẩm để điều tra bổ sung, hay các bên yêu cầu Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét lại vụ án. Trong một số vụ án, quyết định của tòa án có thể được xem xét lại toàn bộ bởi một nhóm lớn các thẩm phán (thường là tất cả các thẩm phán của Tòa án phúc thẩm vùng).

Hầu hết các tòa án liên bang có hệ thống truy xuất thông tin tự động đặt ở ngay quầy công chúng ở tòa án. Các tòa phá sản và tòa phúc thẩm cũng có hệ thống thông tin điện thoại để giải đáp cho người gọi đến theo dõi tiến độ vụ án. Thư ký tòa án trả lời miễn phí mọi yêu cầu theo dõi tiến độ; riêng việc tìm kiếm và truy xuất thông tin tòa án, sao chép tài liệu thì có thu phí. Trang chủ của ngành tư pháp liên bang www.uscourt.gov có những kết nối đến các website từng tòa án, cũng như một danh mục dịch vụ truy cập điện tử giúp cho việc thông tin cập nhật.

Luật sư Tống Quang Minh

SO SÁNH: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG HOA KỲ




Khác nhau về cách thức tổ chức nhà nước là điểm quan trọng dẩn đến sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ. Hơn nửa, do đi theo hai trương phái luật khác nhau, Common law và Civil law, Việt Nam và Hoa Kỳ có những điểm khác biệt về việc sử dụng án lệ trong lý luận cũng như thực tiển pháp lý. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đi phân tích, so sánh hệ thống pháp luật hai nước về nguồn của luật – cách thức tổ chức hệ thống pháp luật theo chiều dọc.

1.      TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LIÊN BANG HOA KỲ
Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ có nhiều cấp, có thể là nhiều hơn hầu hết các nước khác. Nguyên nhân một phần là do có sự phân chia giữa luật liên bang và bang. Để hiểu được điều đó, cần nhắc lại rằng lịch sử Hoa Kỳ không phải hình thành từ một quốc gia, mà là một liên minh 13 khu vực thuộc địa, mỗi khu vực đều độc lập tách khỏi Anh Quốc. Do đó, Tuyên ngôn độc lập (1776) có nói đến “Dân tộc các khu vực thuộc địa”, nhưng đồng thời cũng thừa nhận “Các khu vực thuộc địa Hợp chúng quốc là, và có quyền được làm, CÁC BANG TỰ DO VÀ ĐỘC LẬP”. Sự giằng kéo giữa một dân tộc và nhiều bang là một vấn đề bao trùm lịch sử pháp lý Mỹ. Như giải thích ở dưới, Hiến pháp Mỹ (thông qua năm 1787, phê chuẩn năm 1788) bắt đầu một quá trình chuyển đổi đầy tranh cãi, chậm chạp và gián đoạn, từ chỗ quyền lực và thẩm quyền pháp lý nằm trong tay các bang, đã chuyển giao cho nhà nước liên bang. Tuy nhiên, đến nay các bang vẫn giữ nhiều thẩm quyền lớn. Các sinh viên nghiên cứu hệ thống pháp luật Mỹ phải hiểu được tại sao phạm vi thẩm quyền lại được phân chia giữa chính quyền liên bang và các bang.
Hiến pháp đã xác định nhiều ranh giới giữa luật liên bang và bang. Nó cũng phân chia quyền lực liên bang thành các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp (tạo ra cái gọi là “tam quyền phân lập” và gìn giữ một cách thiêng liêng hệ thống “kiềm chế và đối trọng”, nhằm ngăn chặn không cho một ngành nào đó có thể lạm dụng quyền lực của các ngành khác); và mỗi ngành có đóng góp riêng biệt vào hệ thống pháp lý. Trong hệ thống đó, Hiến pháp quy định những loại luật mà Quốc hội có thể thông qua.
Nhưng ngoài ra còn nhiều vấn đề phức tạp khác: luật Mỹ không chỉ là các đạo luật do Quốc hội thông qua. Trong một số lĩnh vực, Quốc hội có thể cho phép các cơ quan hành pháp được ban hành các quy tắc chi tiết hóa luật định. Và toàn bộ hệ thống được dựa trên các quy tắc pháp lý truyền thống của Thông luật Anh. Mặc dù Hiến pháp và các đạo luật đều có giá trị cao hơn thông luật, toà án vẫn tiếp tục áp dụng các nguyên tắc thông luật bất thành văn để lấp các chỗ trống chưa được Hiến pháp đề cập, cũng như không được Quốc hội luật hóa.
2.      NGUỒN CỦA LUẬT – HỆ THỐNG PHÁP LUẬT THEO CHIỀU DỌC
2.1.           Luật thành văn
Việt Nam theo trường phái luật Châu âu lục địa( Civil law) nên luật viết là nguồn chính thức, chủ yếu của hệ thống pháp luật. Do vậy, thẩm quyền ban hành, hiệu lực pháp lý của văn bản là yếu tố tạo nên hệ thống pháp luật về chiều dọc khi xét đến. Ngược lại, là điển hình của trường phái Common law, hệ thống pháp luật Hoa kỳ mang những đặc điểm riêng, kèm theo đó là tính phức tạp trong quá trình vận hành hệ thống pháp luật.
2.1.1.     Hiến pháp  và tính tối cao của pháp luật

Hiến pháp là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất ở các nước lập hiến. Điều này đồng nghĩa với tất cả các văn bản pháp lý khác( kể cả điều ước quốc tế) phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp. Việt Nam cũng không ngoại lệ, tính tối cao đó được quy định rất rõ tại điều 146, Hiến pháp 1992, là: “ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác  phải phù hợp với Hiến pháp.”
Ở Mỹ, trong giai đoạn 1781–1788, đã có một thỏa thuận gọi là Hiến chương liên minh điều chỉnh mối quan hệ giữa 13 bang. Một Quốc hội tòan quốc tương đối lỏng lẻo được thành lập. Mặc dù mỗi bang đều cam kết danh dự sẽ tuân thủ phán quyết tòa án củ a các bang khác (theo cơ chế “tin cậy và tín nhiệm hoàn toàn”), nhưng Hiến chương không có quy định nào về thẩm quyề n pháp lý liên bang, trừ quy định về tòa án hàng hải.
Việc xây dựng và phê chuẩn Hiến pháp thể hiện ngày càng có sự đồng thuận trong vấn đề cần phải củng cố nhà nước liên bang. Hệ thống pháp luật là một trong những lĩnh vực thực hiện được vấn đề đó. Nội dung quan trọng nhất là “điều khoản tối cao”, trong Điều VI của Hiến pháp:
“ Hiến pháp này, và các luật của Hợp chúng quốc được xây dựng trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, và tất cả các hiệp ước đã được ký kết hoặc sẽ được ký kết, với tư cách thẩm quyền Hợp chúng quốc, sẽ là luật tối cao của tổ quốc; và mang tính ràng buộc đối với thẩm phán ở tất cả các bang, cho dù trong Hiến pháp và luật của các bang có bất cứ nội dung gì trái ngược.”
Quy định này đã thiết lập nguyên tắc tiên quyết của luật Hoa Kỳ: Một khi Hiến pháp đã quy định, không bang nào được quyền làm trái. Có một điểm vẫn chưa rõ, là điều cấm này sẽ được áp dụ ng cho bản thân chính quyền liên bang như thế nào, và hệ thống pháp luật từng bang có vai trò như thế nào trong nhữ ng lĩnh vực mà Hiến pháp không quy định rõ. Các tu chính án Hiến pháp đã phần nào trả lời vấn đề nà y; lịch sử còn nhiều thăng trầm, và thậm chí đến nay, người Mỹ vẫn tiếp tục vật lộn để định ra đường phân giới rõ ràng giữa thẩm quyền liên bang với thẩm quyền bang.
1.1.1.     Vai trò của Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp trong hệ thống pháp luật
Nhà nước là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị của một quốc gia. Một trong những chức năng quan trọng và duy nhất của nhà nước là tạo ra pháp luật – công cụ hữu hiệu và chủ yếu để Nhà nước quản lý xã hội. Mổi quốc gia có cách thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau, nhưng tựu chung, chúng luôn hướng đến tính cân bằng và hợp lý trong phân chia quyền lực nhà nước. Đơn giản, nếu một đạo luật được tạo ra, đòi hỏi phải có cơ chế đảm bảo thực hiện và bảo vệ nó, và chức năng này không thể tập trung vào trong tay một chủ thể nào cả, vì chúng ta không thể chấp nhận đối tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi” được.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân; quyền lực nhà nước tập trung trong tay nhân, thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội và có sự phân công, phân nhiệm trên ba chức năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nguyên tắc tập trung, dân chủ luôn chi phối toàn diện về phương thức tổ chức cũng như hoạt động đối với bộ máy nhà nước Việt Nam.
Khác với Việt Nam, do ảnh hưởng từ học thuyết tam quyền phân lập của Montesqueiu(1689-1755), khi những người dự thảo Hiến pháp tìm cách củng cố nhà nước liên bang, họ cũng sợ là sẽ tăng cường quyền lực quá mức. Một biện pháp nhằm khống chế cơ chế mới là phân chia thành các ngành. Như James đã giải thích trên tờ Federalist (Người liên bang) số 51, “sự lạm dụng quyền lực được khống chế bằng cách chia nhà nước thành các cấu phần tách rời một cách rõ rệt”. Mỗi một “cấu phần” của Madison (lập pháp, hành pháp và tư pháp) được trao một công cụ tác động lên hệ thống pháp luật.
1.1.1.1.          Lập pháp

Ở Việt Nam, Hiến pháp trao quyền lập hiến, lập pháp, một cách duy nhất, cho Quốc hội. Tại điều 83, Hiến pháp 1992, quy định:
 Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.”
Văn bản quy phạm pháp luật mà Quốc hội có thẩm quyền ban hành là Hiến pháp, Bộ luật, Luật và Nghị quyết và văn bản do Quốc hội ban hành có giá trị pháp lý cao nhất. Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội trong khoảng thời gian không họp của mình. Theo quy định, Ủy ban thường vụ quốc hội có thẩm quyền ban hành Pháp lệnh và Nghị quết, có giá trị pháp lý thấp hơn.
Hiến pháp Hoa kỳ trao quyền thông qua luật cho Quốc hội. Một đề xuất được Quốc hội xem xét được gọi là một dự luật (bill). Nếu đa số thành viên mỗi viện (Thượng viện và Hạ viện) thông qua (trong trường hợp Tổng thống phủ quyết, thì tỷ lệ đa số phải là hai phần ba), thì dự luật sẽ trở thành luật. Luật liên bang được gọi là đạo luật (statute). Còn Bộ luật Hoa Kỳ (United States Code) là kết quả của việc “pháp điển hoá” các đạo luật liên bang. Bản thân Bộ luật không phải là một luật, mà nó chỉ là các đạo luật được sắp xếp theo trật tự lôgích. Ví dụ, Tiêu mục (Title) 20 bao gồm các đạo luật về Giáo dục, còn Tiêu mục 22 bao gồm các đạo luật về Đối ngoại.
Quyền làm luật của Quốc hội bị giới hạn. Nói chính xác hơn, nó được người dân Mỹ ủy quyền thông qua Hiến pháp, trong đó quy định những lĩnh vực mà Quốc hội có quyền hoặc không có quyền làm luật. Điều I, Mục 9 của Hiến pháp cấm Quốc hội thông qua một số loại luật. Ví dụ, Quốc hội không được thông qua một đạo luật hồi tố “ex post facto” (luật áp dụng hồi tố, “sau khi sự kiện đã diễn ra”), hoặc áp đặt thuế xuất khẩu. Điều I, Mục 8 liệt kê các lĩnh vực Quốc hội được làm luật. Một số nội dung khá là cụ thể (như “Xây dựng Bưu điện”), nhưng nhiều nội dung khác thì lại rất chung chung, nổi bật nhất là quy định “được điều chỉnh thương mại với nước ngoài, và giữa các bang”. Tất nhiên, quyền diễn giải các quy định thẩm quyền kém chính xác là cực kỳ quan trọng. Do đó, trong giai đoạn đầu của lịch sử nền cộng hòa, nhờ nắm được vai trò diễn giải, nên ngành tư pháp đã nắm thêm một vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.
1.1.1.2.          Tư pháp
Hệ thống tư pháp Việt Nam bao gồm hai thiết chế: Viện kiểm sát và Tòa án , tương tự như Viện công tố và Tòa án của các nước phát triển. Xét xử là chức năng chính của tòa án, trong khi đó, công tố và bảo vệ pháp luật là chức năng của Viện kiểm sát theo điều 127, 137 Hiến pháp 1992. Tuy nhiên, bán án và quyết định của Tòa án không mang tính luật, xét về tính quy phạm, mà chỉ là những phán quyết mang tính cá biệt. Một điểm nửa, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền ban hành Nghị quyết. Suy cho cùng, đó chỉ là tập hợp kinh nghiệm xét xử, hướng dẩn giải quyết chung, thống nhất cho ngành để đảm bảo hiệu quả cho công việc xét xử. Tóm lại, ở Việt Nam, Tòa án nói riêng, hệ thống Tư pháp nói riêng, không có chức năng làm luật.
Cũng như các ngành khác, quyền của ngành tư pháp Hoa Kỳ được quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp chỉ quy định thẩm quyền xét xử liên bang trong một số loại tranh chấp nhất định. Điều III, Mục 2 liệt kê những nội dung này. Hai loại tranh chấp quan trọng nhất là các vụ việc liên quan đến nghi vấn luật liên bang (“Tất cả các vụ việc về luật và công bằng, phát sinh từ Hiến pháp, các đạo luật của Hợp chúng quốc và các hiệp ước đã ký kết ...”) và các vụ việc “đa chủng”, tức là các vụ tranh chấp giữa công dân của hai bang khác nhau. Thẩm quyền xét xử này cho phép mỗi bên có thể tránh đưa vấn đề ra trước các tòa án của bang của nhau.
Quyền xét xử thứ hai xuất hiện trong những năm đầu của nền cộng hòa. Như giải thích trong Chương 2, phán quyết của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Marbury kiện Madison (1803) đã giải thích thẩm quyền (được Hiến pháp ủy quyền) của nó là được phép xác định một đạo luật vi hiến, và tuyên bố luật vô hiệu. Một đạo luật có thể vi hiến nếu nó xâm phạm các quyền của người dân được Hiến pháp bảo vệ, hoặc nếu Điều I không cho phép Quốc hội được thông qua loại luật đó.
Do đó, quyền diễn giải các quy định hiến pháp mô tả lĩnh vực nào Quốc hội được làm luật là rất quan trọng. Theo truyền thống, Quốc hội thường chứng minh rằng các đạo luật là cần thiết nhằm điều chỉnh “thương mại ... giữa một số bang”, hay còn gọi là thương mại xuyên bang. Đây là một khái niệm mềm dẻo, khó mô tả chính xác. Thực tế, mỗi người đều có thể cho rằng gần như tất cả các đạo luật đều có sự ràng buộc hợp lý giữa mục đích của nó với việc điều chỉnh thương mại xuyên bang. Nhưng nhiều lúc ngành tư pháp diễn giải “điều khoản thương mại” một cách bó hẹp. Ví dụ, năm 1935, Tòa án tối cao đã vô hiệu hóa một đạo luật liên bang quy định số giờ làm và mức lương của người lao động ở các lò mổ New York, vì tất cả thịt gà được xử lý ở đây đều được bán cho các cửa hàng và quầy thịt ở New York và do vậy không có yếu tố thương mại xuyên bang. Tuy nhiên, ngay sau đó, Tòa án tối cao bắt đầu ủng hộ các chương trình thuộc Chính sách mới (New Deal) củ a Tổng thống Franklin D. Roosevelt một cách rộng rãi hơn, và ngày nay các tòa án liên bang vẫn tiếp tục diễn giải quyền thương mại theo nghĩa rộng, mặc dù không rộng đến mức có thể cho phép Quốc hội có thể thông qua bất cứ loại luật nào.
2.1.1.3. Hành pháp

Chính phủ - cơ quan hành pháp tối cao của Việt Nam - thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Để thực hiện chức năng của mình, Chính phủ có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo quy định tại điều 2, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008: Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng các Bộ và Quyết định của Tổng kiểm toán nhà nước. Và, đây là thẩm quyền lập quy của cơ quan Hành pháp, có hiệu lực pháp lý thấp hơn so với văn bản của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành.
Điều II, Hiến pháp Hoa Kỳ, trao “Quyền hành pháp” cho Tổng thống Hợp chúng quốc. Trong nhiệm kỳ của Tổng thống George Washington, toàn bộ ngành hành pháp bao gồm một Tổng thống, một Phó tổng thống, và các bộ Ngoại giao, Ngân khố, Chiến tranh và Tư pháp. Nhưng khi đất nước lớn mạnh lên, ngành hành pháp cũng phát triển thêm. Ngày nay, có đến 15 bộ cấp nội các. Mỗi bộ có một số tổng cục, cục và các cơ quan khác. Ngoài ra còn có một phần ngành hành pháp nằm ngoài các bộ. Tất cả đều thực thi quyền hành pháp do Tổng thống ủy nhiệm và chịu trách nhiệm cuối cùng trước Tổng thống.
Trong một số lĩnh vực, mối quan hệ giữa hành pháp và hai ngành kia là không rõ ràng. Giả sử có một hoặc một số người cướp ngân hàng. Quốc hội thông qua một đạo luật quy định hành vi cướp ngân hàng là phạm tội (Bộ luật Hoa Kỳ, Tiêu mục 18, Mục 21131). Cục điều tra liên bang (FBI), một cục thuộc Bộ Tư pháp, có thể sẽ điều tra vụ việc. Khi nó phát hiện một hoặc một số người tình nghi, một viên Công tố liên bang (cũng thuộc Bộ Tư pháp) có thể cố gắng chứng minh người tình nghi là tội phạm trong một phiên xét xử do một Tòa án sơ thẩm cấp hạt Hoa Kỳ tiến hành.
Cướp ngân hàng là một vụ việc đơn giản. Nhưng khi đất nước ngày càng phát triển và hiện đại hóa, mối quan hệ giữa ba ngành trong hệ thống luật pháp cũng phát triển để giải quyết các vấn đề phức tạp hơn của xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp. Vai trò của ngành hành pháp thay đổi nhiều nhất. Trong ví dụ cướp ngân hàng, Quốc hội hầu như không cần đến chuyên môn để có thể dự thảo một đạo luật quy định hành vi cướp ngân hàng là tội phạm. Hãy giả sử các nhà làm luật muốn cấm các lọai dược phẩm “nguy hiểm” trên thị trường, hay hạn chế lượng ô nhiễm “độc hại” trong không khí. Quốc hội có thể chọn cách quy định chính xác định nghĩa của các thuật ngữ đó. Đôi lúc Quốc hội cũng làm vậy, nhưng có xu thế là Quốc hội ngày càng tăng cường trao bớt một phần thẩm quyền của nó cho các cơ quan hành chính công trong ngành hành pháp. Do đó, Cục quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) là cơ quan giám sát độ tinh sạch của thực phẩm và dược phẩm quốc gia, còn Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) là cơ quan điều chỉnh vấn đề tác động môi trường đất, nướ c và không khí của các ngành công nghiệp.
Mặc dù các cơ quan nhà nước chỉ nắm giữ những thẩm quyền được Quốc hội ủy quyền theo luật, nhưng phạm vi thẩm quyền đó có thể khá lớn. Nó có thể bao gồm quyền được ban hành các quy tắc quy định chính xác các thuật ngữ chung chung trong luật. Luật có thể cấm lượng ô nhiễm “nguy hiểm” trong không khí, còn EPA sẽ quy định loại chất và hàm lượng của mỗi loại chất được coi là nguy hiểm. Đôi lúc luật trao quyền cho một cơ quan nhà nước được phép điều tra các hành vi vi phạm các quy tắc của nó, phán xử các vi phạm đó, và thậm chí là cả việc áp dụng lệnh trừng phạt.
Các tòa án sẽ vô hiệu hóa một đạo luật trao quá nhiều quyền cho một cơ quan. Một đạo luật quan trọng là Đạo luật thủ tục hành chính (Bộ luật Hoa Kỳ, Tiêu mục 5, Mục 551, và mục tiếp theo) đã giải thích các thủ tục mà một cơ quan phải tuân thủ khi ban hành các quy tắc, đánh giá vi phạm và áp dụng chế tài. Nó cũng quy định các bên được phép đưa một quyết định của cơ quan hành pháp ra xem xét trước toà như thế nào.
2.2.           Các nguồn luật khác
Về mặc lý luận cũng như thực tiển, Việt Nam vẩn chưa thừa nhận án lệ( thông luật) là nguồn của luật. Theo Hiến pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất, ngoài Quốc hội có thẩm quyền giải thích luật. Do vậy, các giải pháp, nguyên tắc ghi nhận tại các Kết luận có tác dụng vạch ra đường lối xét xử của thẩm phán, nhưng không được coi là chuẩn mực xét xử mà công dân phải tuân theo trong đời sống pháp lý. Tuy nhiên, không thể không thừa nhận rằng đường lối xét xử tạo ra một hành lang mà một khi không đi ra khỏi hành lang đó, chủ thể quan hệ pháp luật có thể an tâm với thái độ ứng xử của mình, nhất là khi vụ việc xảy ra tranh chấp tại Tòa án.
Nguồn rõ ràng nhất của luật pháp Mỹ là các đạo luật do Quốc hội thông qua, được bổ sung bằng các quy định hành chính. Đôi khi những nguồn này quy định rõ ràng ranh giới giữa hành vi hợp pháp và phạm pháp – như trong ví dụ cướp ngân hàng – nhưng không có nhà nước nào có thể ban hành đủ luật để khép kín được tất cả các tình huống. Rất may là đã có một thực thể khác quy định các nguyên tắc và chuẩn mực pháp lý giúp lấp các chỗ trống, như trình bày dưới đây
2.2.1.     Thông luật
Khi không có sự khống chế của các quy định hiến pháp và đạo luật, các tòa án liên bang và bang thường đối chiếu với thông luật; đó là một tuyển tập các quyết định tư pháp, thông tục và quy tắc chung có từ nhiều thế kỷ trước ở nước Anh và vẫn tiếp tục phát triển cho đến nay. Ở nhiều bang, thông luật tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tranh chấp hợp đồng, do các nhà làm luật của bang thấy không cần thiết phải thông qua các đạo luật quy định tất cả những trường hợp bất thường về hợp đồng có thể xảy ra.
2.2.2.     Tiền lệ tư pháp
Các tòa án xét xử các hành vi vi phạm luật và các tranh chấp nảy sinh từ luật. Thông thường, tòa án cần phải diễn giải luật. Để làm điều đó, các tòa án tự ràng buộc bởi cách giải thích luật trước đó của các toà án cùng cấp hoặc cao hơn. Đây được gọi là nguyên tắc “theo quyết định trước”, hay đơn giản gọi là tiền lệ. Nó giúp bảo đảm sự nhất quán và có thể lường trước. Nếu phải đối mặt với các tiền lệ hoặc luật án lệ (case law) bất lợi, bên bị thường tìm cách phân biệt sự khác nhau giữa những yếu tố khách quan của vụ việc đang xem xét với các sự kiện đã dẫn đến quyết định trước đó.
Đôi khi các tòa án diễn giải luật không giống nhau. Ví dụ, Tu chính án Hiến pháp thứ mười lăm có một quy định là “trong bất kỳ vụ án hình sự nào, không ai ... bị buộc phải làm chứng chống lại mình”. Thỉnh thoảng lại có các vụ án trong đó một cá nhân từ chối trả lời các câu hỏi hoặc khai nhận dưới hình thức khác, trên cơ sở lập luận rằng lời khai đó có thể sẽ được dùng làm cơ sở khởi tố cá nhân này ở một nước khác (không phải ở Hoa Kỳ). Có thể áp dụng điều luật tự buộc tội trong trường hợp này hay không? Toà phúc thẩm địa phận số 2 của Hoa Kỳ cho rằng có thể áp dụng, nhưng Tòa phúc thẩm các địa phận số 4 và 11 lại diễn giải ngược lại2. Điều đó có nghĩa là luật pháp khác nhau phụ thuộc nơi mà vụ việc đó phát sinh!
Các tòa án cấp cao hơn tìm cách giải quyết sự thiếu nhất quán này. Ví dụ, Tòa án tối cao Hoa Kỳ thường chọn việc xét xử các vụ án nếu phán quyết của vụ đó có thể giải quyết sự bất đồng giữa các tòa phúc thẩm. Tiền lệ của Tòa án tối cao sẽ khống chế, hoặc áp dụng cho tất cả các toà án liên bang cấp dưới. Trong vụ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ kiện Balsys, 524 U.S. 666 (1998), Tòa án tối cao đã phán quyết rằng sợ bị truy tố ở nước ngoài là vượt quá phạm vi của Điều luật tự buộc tội3.
Phán quyết này trở thành luật của toàn nước Mỹ, kể cả ở khu vực Tòa phúc thẩm địa phận số 2. Bất kỳ tòa án liên bang nào sau này gặp phải vấn đề đó đều bị ràng buộc bởi phán quyết của tòa cấp cao trong vụ Balsys. Tương tự, phán quyết của toà phúc thẩm lưu động vùng có giá trị ràng buộc tất cả các tòa án hạt trong khu vực. Tiền lệ cũng được áp dụng ở nhiều hệ thống tòa án bang. Do đó, tiền lệ ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn nội dung diễn giải.
Kết luận:
Với cách thức tổ chức nhà nước liên bang, pháp luật Hoa Kỳ được xem là phức tạp trong cách thức tổ chức, quy định và vận hành của mình. Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp đều có vai trò quan trọng, độc lập tương đối, tác động đến hệ thống pháp luật Liên Bang. Một điểm nửa, pháp luật Hoa Kỳ là hệ thống pháp luật điển hình cho trường phái luật Commom law, đặc trưng về cách thức sử dụng thông luật( án lệ) trong quá trình áp dụng pháp luật. So với Việt Nam, do ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil law, nên luật viết là nguồn chính thống( nhưng không duy nhất) tạo chất nền cho toàn bộ hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, theo xu hướng hợp tác, phát triển và tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của pháp luật Hoa kỳ (common law) đã, đang và sẽ tạo nên ảnh hưởng cho quá trình xây dựng pháp luật Việt Nam. Suy cho cùng, luật viết hay án lệ, cả hai điều có những ưu, nhược điểm riêng và chúng bổ trợ cho nhau; Do vậy, chấp nhận án lệ là điều tất yếu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trên cả về lý luận lẩn thực tiển và đây cũng là xu hướng chung của pháp luật các nước trên thế giới.