Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Thông Cáo phản đối nhóm người lấy tài liệu Tập thể để In Sách bán cuốn "Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam - Theo Dòng Lịch Sử"

MỜI ĐỌC THÔNG CÁO Khẩn Của Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan 
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Link:


Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ra Thông Cáo phản đối nhóm người lấy tài liệu Tập thể để In Sách bán cuốn "Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam - Theo Dòng Lịch Sử"
Thursday, January 11, 2018
VietPress USA (11/1/2018): VietPress USA vừa nhận được một Email kèm theo Thông Cáo của Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (THCSVSQTVBQGVN) lên tiếng phản đối việc có một nhóm vài cựu Sinh Viên Trường Võ Bị Quốc Gia Đà-Lạt đã chiếm đoạt tài liệu biên soạn của tập thể THCSVSQTVBQGVN để xuất bản và sắp ra mắt cuốn sách "Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam - Theo Dòng Lịch Sử" bán với giá USD 50.00/1 cuốn. 

Chúng tôi xin đăng nguyên văn bản Thông Cáo của THCSVSQTVBQGVN phản đối và yêu cầu bà con đọc giả không nên mua vì tài liệu còn khiếm khuyết và là tài sản biên soạn của Tập thể Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Chúng tôi cũng sẵn sàng đăng tiếng chuông thứ hai từ Nhóm Cựu Sinh Viên Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đã chiếm đoạt tài liệu biên soạn của Tập thể để làm của riêng bán kiếm tiền tư túi.


VietPress USA.
            vietpressusa@yahoo.com.



Những cuộc hôn nhân giả đổi lấy thẻ xanh trên đất Mỹ

Mùa xuân này, khi anh chồng hờ người Việt được chấp nhận định cư ở Mỹ, Tiffany sẽ ly hôn và cô đếm từng ngày chờ việc đó.

Tiffany cưới Steve cách đây hai năm rưỡi. Thời điểm đó, anh chàng Việt Nam này đã có vợ, con ở quê nhà và Tiffany có bạn trai lâu năm. Nhưng muốn có một khoản tiền dằn túi nên cô đã gọi cho một người bạn Việt Nam và hỏi họ có biết ai đang tìm vợ không. Người bạn này đã giới thiệu cô với Steve và cả hai quyết định kết hôn ngay lần đầu gặp gỡ.

"Tại cộng đồng người Việt, chúng tôi đều biết về kết hôn giả và hiểu rằng đó là việc nhiều người vẫn làm. Tôi chẳng nói dối hay giấu giếm gì", Tiffany nói khi trả lời phỏng vấn Mic. 

Steve đã thực hiện thủ tục ly dị người vợ thật ở Việt Nam, mặc dù anh có ý định sẽ đoàn tụ với gia đình sau khi kết hôn với một người Mỹ để được nhập cư lâu dài. Anh và Tiffany đã đăng ký kết hôn vài tuần sau khi gặp nhau. "Việc của tôi rất đơn giản. Chỉ giống như làm bạn bè thôi", Tiffany nói.
Steve đã trả cho Tiffany 10.000 đôla khi hai người lấy được giấy đăng ký kết hôn và 15.000 đôla khi được chấp thuận định cư 2 năm. Steve sẽ trả khoản cuối, 5.000 đôla, khi thẻ định cư 10 năm được chấp thuận và họ sẽ ly dị. Trong thời gian này, Tiffany không đăng những bức ảnh tình cảm của mình với bạn trai thật lên mạng. 

"Chúng tôi không gặp nhau thường xuyên, chẳng bao giờ hôn, kể cả trong đám cưới - chỉ chụp ảnh chung", cô kể về mối quan hệ với chồng hờ. "Trong văn hóa Việt Nam, chúng tôi không nên thể hiện tình cảm trước đông người, vì vậy chẳng ai nghi ngờ gì". Tuy nhiên, hai người vẫn đi trăng mật giả ở Vegas và Tiffany dẫn bạn theo, tận hưởng một kỳ nghỉ miễn phí. 

Tiffany cho rằng mình và Steve chẳng bao giờ gặp rắc rối với các nhà chức trách về nhập cư bởi cả hai đều có trình độ và việc làm. "Tôi chẳng làm gì sai. Lý do chúng tôi vượt qua được những lượt phỏng vấn visa là vì cả hai đều đi làm và đóng thuế đầy đủ. Chúng tôi có trách nhiệm và hữu ích với cộng đồng", cô bày tỏ.
Ảnh minh họa: Ice.
Ảnh minh họa: Ice.
Cưới công dân Mỹ là một trong những cách dễ nhất để nhập cư nhằm kiếm thẻ xanh. Trong khi việc lừa đảo này rất đơn giản, hình phạt dành cho nó lại rất nặng: chịu tội tới 5 năm tù và phạt 250.000 USD. Hiểu rõ điều đó nhưng nhiều người vẫn liều, theo Vice. 
Garrett là một công dân Mỹ, sinh ra và lớn lên tại New York. Anh đang chung sống với bạn gái thật tại New York. Evelyn đến từ một nước Đông Á, qua Mỹ học đại học và kết hôn với Garrett sau khi visa sinh viên hết hạn và cô chưa thể xin được visa làm việc. "Hôn nhân thẻ xanh" giúp Evelyn trở thành cư dân thường trú ở New York.
Cô và Garrett gặp nhau 6 năm trước khi làm việc trong ngành khách sạn. Garrett là nhân viên chính thức còn Evelyn làm chui. Một ngày, cô hỏi Garrett có biết ai có thể cùng cô kết hôn giả để lấy thẻ xanh không. "Tôi nói đồng ý và mọi việc cứ thế diễn ra thôi", Garrett nói.
Garrett từng nghe nhiều chuyện tương tự và anh quyết định làm vậy vì Evelyn là bạn và anh muốn giúp cô. Có thêm chút tiền lại càng tốt. "Tôi chỉ lấy giá bằng một nửa. Thường người ta đòi 20.000 đôla nhưng cô ấy chỉ cần trả cho tôi 10.000 đô", anh giải thích.
Evelyn trả tiền mặt, đưa trước cho Garrett một nửa sau khi cả hai chính thức cưới. Cô đảm nhận việc lo mọi giấy tờ sau đó: Mở tài khoản ngân hàng chung, thay đổi địa chỉ thư của Garrett cho phù hợp với của cô, thêm một số điện thoại chung của cả hai. Anh chồng hờ nhận nửa tiền còn lại sau màn căng thẳng nhất - phỏng vấn định cư.
Khi nhận đơn xin nhập cư, Sở nhập tịch và di trú Mỹ (USCIS) sẽ kiểm tra về an ninh và lý lịch để khẳng định tính xác thực về thông tin của người nộp. Trong một số trường hợp, người nộp có thể được chấp thuận mà không cần phỏng vấn nếu mối quan hệ có vẻ chân thật, theo Jim McKinney, nhân viên công vụ của Sở di trú.
Đây là trường hợp của Joe và Libby. Cả hai kết hôn lúc Joe 21 tuổi và Libby mới 18. Họ phải đối mặt với một thực tế: visa tạm thời một năm của Joe đã hết hạn và anh vẫn ở lại Mỹ. Joe đến từ Bulgaria, không muốn trở lại quê nhà.
Hai người đã hẹn hò và dù làm đám cưới khi còn quá trẻ chỉ vì chuyện định cư của Joe, mối quan hệ của họ là thật. Họ không bị yêu cầu phỏng vấn.
"Chẳng có dấu hiệu báo động nào trong mối quan hệ của chúng tôi. Tôi nghĩ cơ quan chức năng thấy đảm bảo khi chúng tôi cùng độ tuổi, có thể giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ chung, ở cùng địa chỉ và có những câu chuyện cho thấy cả hai đang có mối quan hệ tốt đẹp", Libby nói.
Những cặp vợ chồng hờ như Garrett và Evelyn thì có vẻ đáng nghi hơn và được yêu cầu phải xuất hiện tại văn phòng của USCIS để phỏng vấn. Trước buổi gặp này, Garrett và Evelyn viết ra các điểm lưu ý chi tiết về người kia - những điều mà chỉ các đôi yêu nhau thực sự mới biết, như phía giường mà người kia thường nằm hay thông tin về gia đình vợ, chồng của nhau.
"Tôi đến chỗ ở của cô ấy và chụp một đống ảnh. Tôi chụp một bức ở phòng tắm phòng trường hợp người ta hỏi màu bàn chải đánh răng của cô ấy - hay những thứ tủn mủn kiểu đó. Tôi phải viết lại và mất một ngày học thuộc rồi mới đi phỏng vấn", Garrett kể.
USCIS không lưu số liệu về số người xin visa kiểu này bị từ chối, nhưng theo thống kê từ New York Times, chỉ có 506 trong số 241.154 đơn xin nhập cư trong năm 2009 bị từ chối vì gian lận. 
"Nếu một đôi thất bại khi phỏng vấn và bị nghi ngờ, USCIS có thể thực hiện một cuộc điều tra, đến tận nhà hai người cũng như phỏng vấn hàng xóm, đồng nghiệp, những người liên quan", McKinney cho biết.
Trong trường hợp của Garrett và Evelyn, mọi việc đều suôn sẻ và visa 10 năm của Evelyn được chấp thuận. Garrett cũng phải ứng phó với cô người yêu thật đã hẹn hò với mình 2 năm. "Cô ấy biết mọi chuyện bởi vì tôi đã 'cưới' trước khi đến với cô ấy. Tôi cũng hiếm khi phải gặp 'vợ' nên nói chung không có nhiều rắc rối với người yêu", anh nói.
Garrett và Evelyn đã kết hôn được gần 3 năm và Evelyn sẽ nộp đơn nhập quốc tịch. Sau cùng, họ lên kế hoạch cho việc ly dị.
Cho dù những người trẻ kết hôn giả vì công việc hay các lợi ích khác, không hẳn bởi họ không coi trọng hôn nhân. Cả Tiffany và Garrett đều hy vọng ngày nào đó sẽ cưới người mình yêu. Khi đó, theo lời họ, cuộc hôn nhân giả đầu tiên có thể sẽ giúp họ vượt qua được những thử thách trong cuộc sống gia đình.
Vương Linh

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Mẹ gốc Việt bị tình nghi giết con 4 tháng tuổi ở Mỹ

Một phụ nữ gốc Việt 29 tuổi ở Mỹ bị bắt với cáo buộc giết con trai tại nhà riêng.

me-goc-viet-bi-tinh-nghi-giet-con-4-thang-tuoi-o-my
Hiện trường vụ án ở thành phố Westminster, quận Cam, bang California, Mỹ nơi Thi Nhat Ha Nguyen bị tình nghi sát hại con trai 4 tháng tuổi. Ảnh: OnScreenTV.
Thi Nhat Ha Nguyen, sống ở thành phố Westminster, quận Cam, bang California, bị tình nghi sát hại con trai 4 tháng tuổi, NBC dẫn lời cảnh sát trưởng thành phố Cameron Knauerhaze cho biết.
Hung Nguyen, bạn trai của nghi phạm cũng là cha của đứa trẻ, đã gọi điện báo cảnh sát vào lúc 11h đêm 12/12. Anh nói rằng Thi Nhat Ha Nguyen có hành động "kỳ lạ" và phát hiện con trai họ đã ngừng thở. 
"Tôi đi đến gần cô ấy và hỏi: 'Chuyện gì xảy ra vậy?'. Cô ấy nói: 'Đi đi'. Tôi đến bên giường và nhìn thấy con mình không còn động đậy", anh Hung Nguyen trả lời đài ABC7.
Hiện nguyên nhân cái chết của đứa trẻ vẫn chưa được tiết lộ. Theo cảnh sát, bé trai bị chấn thương ở vùng đầu.
"Hồi tháng 7, bạn gái tôi từng cố gắng tự tử khi đang mang thai", anh Hung Nguyen kể lại và thừa nhận trước khi con trai tử vong, anh và bạn gái đã cãi vã khiến cô này tức giận xé hết các bức ảnh gia đình treo trên tường.
Cảnh sát cho biết sẽ giám định sức khỏe tâm thần của nghi phạm.  
An Hồng

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

Ba người Việt bị tù vì tội bắt gái làm nô lệ trong tiệm móng tay


Tiệm nail của bà Nguyễn Hương Thu bị điều tra đầu tháng 11, 2017. (Artur Lesniak/ Trinity Mirror)
STAFFORD, Anh Quốc - Ba người gồm một nam và hai nữ đã bị tuyên án sau một cuộc điều tra về hành động bóc lột và cưỡng bức lao động trong các tiệm nail ở Midlands và South West.
Sở Cảnh Sát Staffordshire và Sở Cảnh Sát Avon and Somerset đã phanh phui một hoạt động buôn người, trong đó các cô gái người Việt Nam bị buộc phải làm việc mà không được trả tiền công trong các tiệm nail trên khắp nước Anh.


Từ trái là Nguyễn Hương Thu, Nguyễn Hoàng Việt, và Trần Hương Giang.

Hai phụ nữ và một ông đã bị tuyên án tại tòa Stafford Crown Court vào ngày thứ Ba vì những tội phạm, chiếu theo Đạo Luật Nô Lệ Hiện Đại.

Hai người bị bắt là cặp vợ chồng Nguyễn Hoàng Việt, 29 tuổi (còn được gọi là Ken) và Trần Hương Giang, 23 tuổi, (cũng có tên là Susan). Cả hai đều cư ngụ trên đường Barker Round ở Burton, bị phán quyết có tội, với tội danh âm mưu đòi buộc những người khác phải làm việc lao động bị cưỡng bức hoặc bắt buộc.
Nguyễn Hoàng Việt cũng bị kết tội âm mưu sắp xếp hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa người ta đi để bóc lột sức lao động.

Nguyễn Hương Thu, 48 tuổi (cũng có tên là Jenny), cư ngụ ở Bath, bị kết tội âm mưu sắp xếp hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa người ta đi để bóc lột sức lao động. Bà cũng bị buộc tội âm mưu đòi buộc những người khác phải làm việc lao động bị cưỡng bức hoặc bắt buộc.

Họ đã bị kết tội vào ngày 3 tháng 11, 2017, sau một cuộc xét xử kéo dài tám tuần lễ tại tòa án Stafford Crown Court.

Đến ngày thứ Ba, 2 tháng 1, 2018, Nguyễn Hoàng Việt bị tuyên án bốn năm tù. Trần Hương Giang lãnh án tù hai năm. Nguyễn Hương Thu bị tuyên án năm năm tù giam.

Các vụ bắt giữ đã được thực hiện tại một tiệm nail ở Abbey Arcade, Burton. Hai phụ nữ trẻ dễ bị tổn thương, cũng đang bị bóc lột vì những mục đích lao động, đã được tìm thấy trong những tiệm ấy.
Họ đã bị đưa đi trên khắp nước Anh, và bị bóc lột thông qua việc kiểm soát áp đặt trên họ vì tình trạng thiếu cương vị di trú, vì tuổi tác và địa vị xã hội của họ.

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

Về Các Lời Vu Khống - Thông Báo của BPSOS

Ngày 4 tháng 10, 2016

·         Vu khống rằng BPSOS sang đoạt tài sản

·         Vu khống rằng BPSOS biển thủ cấp khoản của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ

·         Vu khống rằng BPSOS khai gian thuế với Sở Thuế Hoa Kỳ

http://machsongmedia.com
BPSOS là một tổ chức bất vụ lợi có trụ sở trung ương đặt tại Bắc Virginia, và nhiều văn phòng chi nhánh ở Hoa Kỳ và Đông Nam Á. Tổ chức của chúng tôi được xây dựng trên các giá trị đạo đức, hoạt động theo các nguyên tắc chuẩn mực, tuyệt đối tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ và luật pháp của các quốc gia sở tại, và được kiểm toán theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất của chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ. Hàng năm BPSOS không những  khai thuế với Sở Thuế Liên Bang (IRS), không chỉ qua quy trình kiểm toán (audit) thông thường của chính phủ và của các nguồn tài trợ, mà còn trải qua thủ tục kiểm toán chiếu theo huấn thị A-133 của OMB (Văn Phòng Quản Trị và Ngân Sách) dành cho các tổ chức nhận cấp khoản lớn của chính phủ Liên Bang.

Trong thời gian qua, trên hệ thống mạng (email và internet) đã xuất hiện một số lời vu khống nhắm vào vấn đề tài chánh của BPSOS. Chúng tôi đã trả lời, nhưng các lời vu khống ấy đã được lập đi lập lại dưới nhiều hình thức. Dưới đây chúng tôi xin lên tiếng một lần cho dứt khoát về những lới vu khống đầy ác ý này. Sau đó, chúng tôi sẽ sẵn sàng trả lời và chỉ trả lời những thắc mắc xác đáng, nghĩa là dựa trên những thông tin được phối kiểm hẳn hòi chứ không phải là cố tình cáo buộc.

Bà Phạm Thu Hạnh vu khống BPSOS sang đoạt tài sản
Tháng 8 năm 2014, Bà Tôn Nữ Hoàng Hoa tung lên internet bài “Yêu Cầu T/S Nguyễn Đình Thắng lên tiếng về việc sang đoạt chủ quyền trường dạy làm tóc của Cô Phạm Thu Hạnh”. Chúng tôi nhận thấy bài viết này và các bài viết phụ hoạ của một số người khác là thiếu trách nhiệm vì họ đã không liên lạc với chúng tôi để phối kiểm dữ kiện trước khi tung bài ra.
Sự thật là, Bà Phạm Thu Hạnh đã đến nhờ chúng tôi cứu giúp cho trường dạy làm tóc của Bà khỏi bị đóng cửa. Do lời nói thêm của một người khả kính, chúng tôi đã nhận lời giúp. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu sâu hơn thì chúng tôi đành phải khước từ vì Bà Phạm Thu Hạnh đã lem nhem về sổ sách tài chính, giấy tờ thuế khoá có nhiều khuất tất, và danh sách học viên có những chi tiết dàn dựng. Tất cả các văn thư trao đổi với Bà Phạm Thu Hạnh về việc này chúng tôi đều lưu trữ hồ sơ.
Tuy nhiên, Bà Phạm Thu Hạnh không chỉ dự phần cùng với Bà Tôn Nữ Hoàng Hoa trong bài viết mang tính cách vu khống nêu trên mà còn báo cáo láo với Sở Cảnh Sát Quận Fairfax, Virginia rằng BPSOS sang đoạt tài sản. Sở cảnh sát đã đóng hồ sơ khi Bà Hạnh không đưa ra được bất kỳ chứng cớ nào để hỗ trợ cho lời cáo buộc. Theo luật của Tiểu Bang Virginia, báo cáo láo với cảnh sát là một tội hình sự; chúng tôi có quyền yêu cầu Sở Cảnh Sát truy tố Bà Phạm Thu Hạnh nhưng đã bỏ qua.
Ít lâu sau Bà Phạm Thu Hạnh kiện chúng tôi ra toà ở Quận Fairfax. Sau nhiều lần Bà Phạm Thu Hạnh không trưng dẫn được chứng cớ cho lời cáo buộc, luật sư của chúng tôi yêu cầu Toà trừng phạt Bà ấy vì vu khống. Xem dẫn chứng số 1.




Luật sư của Bà Phạm Thu Hạnh tự động xin rút đơn kiện để tránh bị phạt. Trường hợp vu khống này đã kết thúc cách đây hơn 7 tháng với phán quyết ngày 2 tháng 3 năm 2016 của Toà. Xem dẫn chứng số 2.

Vụ cáo buộc rằng BPSOS biển thủ cấp khoản của Bộ Tư Pháp 
Từ 4 năm qua có một số người thỉnh thoảng lại gởi email cáo buộc rằng BPSOS biển thủ số tiền trên nửa triệu Mỹ kim từ cấp khoản của Bộ Tư Pháp dành cho chương trình trợ giúp các nạn nhân buôn người. Sự thật là, Bộ Tư Pháp chỉ yêu cầu BPSOS xác minh những khoản chi tiêu hay phần đóng góp tự nguyện chưa rõ ràng.
Cấp khoản mà BPSOS nhận được từ Văn Phòng Bảo Vệ Nạn Nhân Tội Phạm của Bộ Tư Pháp thuộc chương trình thí điểm nhằm đối phó nạn buôn người ở Hoa Kỳ. BPSOS đã dùng một phần cấp khoản này để tài trợ lại cho tổ chức Ayuda để giúp cho các nạn nhân người gốc Mỹ Châu La-tinh; riêng BPSOS thì tập trung giúp đỡ số 350 đồng bào được giải cứu tại American Samoa và một số nạn nhân trong các vụ buôn người khác về việc xin cho thân nhân đoàn tụ, xin trợ cấp xã hội, xin cho con cái nhập học, xin thẻ thường trú (thẻ xanh) và rồi nhập tịch. Nhờ đó mà đại đa số các đồng bào này giờ đây đã có quốc tịch Hoa Kỳ, đời sống được ổn định, gia đình có thu nhập tốt và con cái học hành tấn tới.
Tháng 7 năm 2008 Bộ Tư Pháp báo cáo kết quả kiểm tra BPSOS và 5 tổ chức khác trong số trên một chục tổ chức toàn quốc được tài trợ trong chương trình thí điểm này. Xem: https://oig.justice.gov/reports/OJP/a0826/app3.htm
Kết luận của Bộ Tư Pháp gồm có:
-          $90,296 do BPSOS và Ayuda đã chi tiêu ngoài tiêu chuẩn cho phép;
-          $77,588 thuộc BPSOS và $36,272 thuộc Ayuda liên quan đến tiền thuế đóng cho Liên Bang và tiểu bang và chi phí bảo hiểm không kiểm chứng đươc;
-          $152,583 phần chi phí hành chánh chưa xác minh được;
-          $294,575 phần đóng góp của các luật sư tình nguyện chưa xác minh được;
-          $57,000 tiền đóng góp thêm vào từ những nguồn khác mà Bộ Tư Pháp chưa chấp nhận.
Xem dẫn chứng số 3.

Phần lớn số tiền $90,296 là các khoản trợ giúp khẩn cấp (emergency assistance) cho nạn nhân. Phần nhỏ bao gồm các chi phí về tiền phụ cấp cho các sinh viên phụ việc, phổ biến thông tin về chương trình trong cộng đồng, bảo hiểm cho văn phòng và luật sư, và mua các nhu liệu cần thiết để thực hiện chương trình. Tất cả các khoản chi tiêu này đều phục vụ cho nạn nhân buôn người, nhưng Bộ Tư Pháp cho rằng không nằm trong khuôn khổ của cấp khoản. Qua nhiều buổi làm việc, chúng tôi đã giải thích cho Bộ Tư Pháp tại sao các nạn nhân cần trợ giúp khẩn cấp và xác minh rằng mọi khoản chi tiêu đều xác đáng. Bộ Tư Pháp đã đồng ý.
Khoản thứ hai, gồm $77,588 thuộc BPSOS và $36,272 thuộc Ayuda, liên quan đến tiền thuế đóng cho Liên Bang và tiểu bang và chi phí bảo hiểm cho các nhân viên công tác trong chương trình. Bộ Tư Pháp đã dùng công thức khác với BPSOS và Ayuda để tính tỉ lệ tiền bảo hiểm và đóng thuế. Chúng tôi đã giải thích và xác minh một cách thoả đáng. Bộ Tư Pháp cũng đã đồng ý.
Khoản thứ ba, gồm $152,583 là khoản chi phí hành chánh cho việc thực hiện dự án. Bộ Tư Pháp cho rằng công thức dùng bởi BPSOS, do một cơ quan liên bang khác chấp thuận, không phù hợp với công thức mà Bộ Tự Pháp sử dụng. Ban Tài Chánh của BPSOS đã giải quyết xong sự khác biệt này và Bộ Tư Pháp đồng ý.
Số tiền lớn nhất, $294,575, không phải là tiền đã nhận được từ chính quyền mà là công lao phục vụ miễn phí (pro bono) của các luật sư thiện nguyện được quy ra tiền để so sánh. Các luật sư này, ở khắp Hoa Kỳ và đã được BPSOS huấn luyện, tình nguyện giúp miễn phí cho các nạn nhân buôn người do BPSOS giới thiệu. Tuy rằng họ ghi số giờ và trị giá tương đương cho mỗi giờ tình nguyện, Bộ Tư Pháp đòi hỏi BPSOS phải trưng dẫn bằng chứng thu nhập của họ. Đây là điều khó khăn vì đó là thông tin cá nhân. Tuy nhiên, chúng tôi đã thuyết phục được các luật sư thông cảm và hợp tác. Đòi hỏi của Bộ Tư Pháp được giải quyết thoả đáng.
Khoản cuối cùng là $57,000. Đó là số tiền mà chúng tôi đã xin được của các tổ chức tư nhân và từ các nhà hảo tâm để phụ thêm vào (local matching) cho cấp khoản của chính quyền. Bộ Tư Pháp không rõ những khoản tiền này đáp ứng như thế nào các nhu cầu của nạn nhân buôn người, và do đó liệu có thể được dùng để báo cáo hay không. Chúng tôi đã giải thích thoả đáng và Bộ Tư Pháp đồng ý.
Đầu năm 2012 Bộ Tư Pháp gởi văn thư thông báo là mọi vấn đề đều đã được giải đáp thoả đáng và đóng hồ sơ. Xem dẫn chứng số 4.


Cho đến nay BPSOS tiếp tục nhận các cấp khoản từ Bộ Tư Pháp để phục vụ nạn nhân buôn người và nạn nhân bạo hành gia đình cũng như để giúp đồng bào tị nạn và di dân trong tiến trình nhập tịch.
Vụ Bà Huệ Ngô tố giác BPSOS khai gian thuế
Từ hơn một năm nay Bà Huệ (Holly) Ngô đã nhiều lần vu khống BPSOS và nhóm “tinh thần hào kiệt”. Gần đây nhất, Bà ấy dẫn chứng bản khai thuế năm 2013 của BPSOS với Sở Thuế Liên Bang (IRS) để cáo buộc rằng chúng tôi khai thiếu khoản tiền gây quỹ và đóng góp của các nhà hảo tâm.  Bà ấy nêu con số $125,582 ghi ở hàng số 11 của hồ sơ khai thuế để vu vạ rằng BPSOS đã khai thiếu vì số tiền thực sự phải là $229,529.90. Nghĩa là chúng tôi đã khai thiếu $103,947.90. Sự thật là, Bà Huệ Ngô không biết đọc hồ sơ khai thuế.
Phần đóng góp cá nhân, tiền gây quỹ và các cấp khoản đều được gom chung ở hàng số 8 (Contributions and grants). Còn hàng số 11 là những khoản thu nhập phát sinh từ văn phòng luật sư của BPSOS ở Houston, công tác dịch thuật của nhân viên và thiện nguyện viên, và những thu nhập linh tinh; riêng năm 2013, con số này bao gồm cả tiền bồi thường thiệt hại $28,000 do một người trong cộng đồng đã lợi dụng danh nghĩa BPSOS để làm những điều tổn hại đến hoạt động của chúng tôi. Nhắc lại, mẫu khai thuế của IRS không có hàng nào riêng cho các khoản đóng góp cá nhân mà gộp chung ở hàng số 8. Xem dẫn chứng số 5.


Tuy nhiên, ai muốn tìm hiểu về tổng chi của BPSOS liên quan đến các hoạt động mà Bà Huệ Ngô thắc mắc thì có thể xem Phần F (Schedule F) của hồ sơ khai thuế: $301,524 cho vấn đề nhân quyền và $89,899 cho việc bảo vệ pháp lý cho người tị nạn, vượt xa con số $229,529.90 mà Bà Huệ Ngô cho là BPSOS đã thu được từ các khoản đóng góp của đồng hương và từ nhóm “tinh thần hào kiệt”. Xem dẫn chứng số 6.

Nhóm “tinh thần hào kiệt” gồm một số anh chị em cam kết với nhau là “nếu thành công thì dân tộc hưởng, nếu thất bại thì tự mình nhận lãnh mà không một lời than vãn”. Được hình thành năm 2012 với trên chục người, nhóm này khởi động kế hoạch 10 năm dân chủ hoá Việt Nam được đề ra trong sách “Thông Điệp Hy Vọng và Trách Nhiệm” do tôi biên soạn và BPSOS phát hành năm 2010. Vì nhu cầu hoạt động âm thầm, chúng tôi chủ trương tự nguyện đóng góp chứ không gây quỹ ngoài cộng đồng cho công cuộc dân chủ hoá đất nước – các cuộc gây quỹ của BPSOS ngoài cộng đồng là để giúp đồng bào tị nạn và nạn nhân buôn người mà thôi.
Chúng tôi chấm dứt giai đoạn hoạt động âm thầm vào giữa năm 2015. Từ năm 2012 đến nay mỗi người trong nhóm “tinh thần hào kiệt” đã tự nguyện đóng góp từ vài nghìn cho đến 50 nghìn Mỹ kim. Bà Huệ Ngô cũng ở trong số đó.
Sau khi tham gia nhóm được một thời gian, Bà Huệ Ngô bắt đầu liên lạc riêng để quấy nhiễu (stalking) một vài thành viên nam trong nhóm và gây phiền hà cho gia đình của họ. Một số anh chị em, khi biết chuyện này, đã không chấp nhận sự tham gia tiếp tục của Bà Huệ Ngô trong nhóm. Chúng tôi đã giữ im lặng về sự việc này cho đến hôm nay.
Chúng tôi cũng quyết định không đáp ứng các đòi hỏi phi lý và nguy hiểm của Bà Huệ Ngô về thông tin liên quan đến hoạt động âm thầm của nhóm: tài trợ bao nhiêu cho ai; danh tính của họ; họ đi những đâu, làm những công việc gì, hoạt động ra sao… Đây là những thông tin cá nhân mà luật pháp Hoa Kỳ không cho phép tiết lộ; hơn nữa những thông tin này có thể gây nguy hiểm cho một số người hoạt động nếu để lộ ra -- đó là lý do chúng tôi đã chủ trương không công bố các hoạt động của nhóm “tinh thần hào kiệt” trong một thời gian dài.
Vì không được thoả mãn về các đòi hỏi phi lý và nguy hiểm của mình, cách đây hơn một năm Bà Huệ Ngô tung bài vu khống BPSOS là không minh bạch về tài chánh. Chúng tôi đã lên tiếng và giải thích qua bài “Thế nào là minh bạch và làm sao để đạt được sự minh bạch?”đăng trên Mạch Sống và trên trang blog của RFA ngày 14 tháng 9, 2015. Xem: http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/how-to-acheave-transparency-09142015095008.html
BPSOS hàng năm đều qua kỳ kiểm toán kéo dài khoảng 4 tuần lễ do một công ty kiểm toán chuyên nghiệp được công nhận bởi chính quyền. Họ kiểm tra không bỏ sót một xu, và chúng tôi phải cung cấp giấy tờ chứng minh mọi khoản thu và chi, chi cho ai, cho việc gì và ở đâu… Vì là công ty chuyên nghiệp, họ hoàn toàn bảo mật các thông tin này. Bà Huệ Ngô không có vai trò kiểm toán, không biết cả cách đọc một hồ sơ khai thuế đơn giản, nhưng lại muốn đóng vai kiểm toán và đòi hỏi những thông tin riêng tư của người khác. Dĩ nhiên chúng tôi không thể đáp ứng những đòi hỏi phi lý và nguy hiểm của Bà ấy.
Bà Huệ Ngô còn đòi BPSOS hoàn trả $22,000 đã đóng góp trước đây. Trong bản khai thuế đã trích dẫn ở trên, năm 2013 BPSOS đã chi tổng cộng $301,524 cho kế hoạch dân chủ hoá Việt Nam, nghĩa là vượt quá tổng số tiền mà nhóm “tinh thần hào kiệt” tự mình đóng góp, trong đó có phần đóng góp của Bà Huệ Ngô. BPSOS đã khoá sổ tài chánh năm 2013 vào cuối năm ấy. Bà Huệ Ngô cũng đã khai trừ thuế với IRS phần đóng góp của mình cho năm 2013. Như thế bất kỳ khoản tiền nào chi ra năm 2016 cũng đều là xuất quỹ từ một nguồn tiền khác chứ không phải tiền đóng góp của Bà Huệ Ngô cách đây 3 năm. Nếu xuất quỹ thì có nghĩa là BPSOS dùng nguồn tiền nào khác để cống hiến cho Bà Huệ một khoản tiền được xem là thu nhập riêng của Bà ấy trong năm 2016. Việc này không chính đáng và có thể là phi pháp vì chúng tôi chỉ có thể xuất quỹ để phục vụ cho những đối tượng như nạn nhân bạo hành, nạn nhân buôn người, người tị nạn, tù nhân lương tâm… Bà Huệ Ngô không nằm trong các thành phần này.
Là một tổ chức bất vụ lợi, BPSOS đã minh bạch trong việc chi thu qua sổ sách kế toán và kiểm toán, đã thực thi đúng đắn các chương trình và dự án đề ra, và đã báo cáo hàng năm với IRS. Chúng tôi luôn trân quý những đóng góp của quý ân nhân. Những đóng góp đó sẽ không được hoàn lại sau khi chúng tôi đã khoá sổ tài chánh vào cuối năm. Làm khác đi thì có nghĩa là trái quy tắc quản trị tài chánh đối với tổ chức bất vụ lợi, trái với sứ mạng của BPSOS, và có thể trái với luật pháp Hoa Kỳ.
Kết luận
BPSOS là tổ chức người Việt hoạt động trên bình diện quốc gia Hoa Kỳ cũng như quốc tế. Qua nhiều năm hoạt động, chúng tôi đủ uy tín về khả năng phục vụ và quản trị tài chánh để tranh đua với các tổ chức bất vụ lợi lớn nhất của Hoa Kỳ cho những cấp khoản của chính phủ liên bang, tiểu bang và địa phương cũng như của nhiều tổ chức tư nhân để phục vụ đồng hương ở Hoa Kỳ. Luật pháp Hoa Kỳ kiểm soát chặt chẽ các cấp khoản đến từ tiền thuế của dân cũng như hoạt động của các tổ chức bất vụ lợi. Nếu chính quyền phát hiện những khuyết điểm và sự thiếu minh bạch thì một tổ chức bất vụ lợi không thể nào tiếp tục nhận được các cấp khoản của chính quyền.
Quan trọng hơn nữa, quyết tâm của chúng tôi là tạo dựng một tổ chức phi chính phủ mẫu mực cho cộng đồng người Việt trên thế giới tự do và cho xã hội dân sự đang phôi thai ở Việt Nam. Các nguyên tắc về minh bạch trong chi thu và kế toán được tuân thủ nghiêm túc vì lý tưởng trên chứ không chỉ vì luật pháp bắt buộc.
Ở bất cứ xã hội nào cũng có một thiểu số các cá nhân muốn tự tung tự tác, phát biểu vô trách nhiệm, bất chấp lương tri và niềm tự trọng, và xem thường những người tiếp nhận thông tin. Trong một xã hội văn minh, tôn trọng sự thật và công lý, chúng tôi mong rằng những người có công tâm và thái độ khách quan sẽ phối kiểm dữ kiện trước khi chuyển cho người khác để tránh vô tình phát tán những thông tin vu khống hay thiếu xác thực. Đó là cách chúng ta góp phần gìn giữ sự trong sáng và lành mạnh cho xã hội đã cưu mang chúng ta từ bao chục năm qua.
Kính thư,
Nguyễn Đình Thắng
Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch
BPSOS

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỪ CHỐI DỊCH VỤ CỦA CHỦ TIỆM NAILS ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG

Trong kinh doanh ngành nails, nhiều khi găp phải nhiều khách hàng "không dễ chịu" chút nào, như khách hàng khó tính, khách hàng dơ bẩn, hôi hám, ghẻ lở, hay khách hàng dẫn theo chó mèo, ... vào tiệm. Mặc dù người chủ tiệm có quyền bảo lưu quyền từ chối dịch vụ cho khách hàng, nhưng có những loại khách hàng đặc biệt như khách hàng tàn tật, thì theo luật, người chủ tiệm KHÔNG ĐƯỢC từ chối cho họ dẫn chó trợ giúp "service dogs" vào tiệm. Ngoài ra, mặc dù người chủ tiệm có thể bảo lưu quyền từ chối dịch vụ, như phải đối xử công bằng, và KHÔNG được từ chối dịch vụ dựa trên sự phân biệt đối xử (discrimination) như giới tính (gender), dân tộc (Ethnic), tôn giáo (religious), tuổi tác (age), ... vì đây là những hành vi vi phạm Luật chống phân biệt đối xử của Liên bang. Hậu quả, thường là người khách hàng kiện người chủ tiệm, và người chủ tiệm có thể bị phạt vạ rất nặng, thâm chí thu hồi giấp phép kinh doanh.
Trong phạm vi bài viết này, THLPHK sẽ phân tích chi tiết quy định của Liên bang về những trường hợp người chủ cơ sở kinh doanh từ chối dịch vụ đối với khách hàng, những trường hợp không được phép từ chối, đặc biết là đối với trường hợp khách hàng là người tàn tật có dẫn theo chó trợ giúp (service dogs). Quý vị cần lưu ý là mỗi tiểu bang đều có luật quy định riêng về nội dung này, và thường là chặt chẽ hơn quy định của Liên bang. Do vậy, để chắc chắn rằng tiệm mình không bị vi phạm, quý vị cần tham khảo kỹ càng cả luật liên bang và luật tiểu bang mình nữa nhé.
Theo quy định của luật chống phân biệt đối xử (Anti-Discrimination Act), các trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh, cơ quan chúng phủ, trụ sở công ích KHÔNG được kỳ thị, phân biệt đối xử, hay từ chối dịch vụ đối với những người mà chỉ vì các yếu tố giới tính, dân tộc, tôn giáo, tuổi tác, hay tình trạng sức khỏe của họ, đặc biệt là đối với những người tàn tật (disabled), bởi vì Luật về bảo vệ người tàn tật (ADA) ngăn cấm việc này.
Nhiều tiệm nails hay gặp phải trường hợp khách hàng dẫn theo thú cung (pet) của họ vào tiệm, nhưng không biết có được quyền từ chối dịch vụ đối với khách hàng này hay không, bởi vì thú cung của họ có thể gây dị ứng, hay nguy hiểm cho các khách hàng khác. Sau đây là quy định chi tiết của ADA về việc khách hàng đem thú cung của họ vào tiệm:
1. Chủ tiệm có quyền từ chối dịch vụ đối với TẤT CẢ các khách hàng mang theo pet của họ vào tiệm, NGOẠI TRỪ duy nhất một trường hợp, đó là người tàn tật dẫn theo chó trợ giúp (service dog) của Họ. Như vậy, người chủ tiệm KHÔNG được từ chối dịch vụ đối với khách hàng là người tàng tật có dẫn theo chó trợ giúp (service dogs).
2. Chỉ duy nhất thú cưng là CHÓ, mới được xem là service dogs, các loài vật khác không được chấp nhận là thú cưng trợ giúp. Chó trợ giúp (service dogs) KHÔNG được xem là thú cung (pet). Do vậy, nếu có khách hàng nào dẫn theo mèo, heo, hay bất cứ một thú cưng nào khác, và nói rằng đây là service animals), thì người khách này đã nói sai luật, và người chủ tiệm có quyền từ chối dịch vụ đối với người khách này cho đến khi họ đưa thú cưng của họ ra khởi tiệm.
3. Chó trợ giúp phải được huấn luyện kỹ năng trợ giúp liên hệ trực tiếp đối với mỗi kiểu tàn tật của khách hàng. Ví dụ, chó được huấn luyện để hướng dẫn cho người mù, hay chó giúp đỡ người ngồi xe lăn... Như vậy, chủ tiệm nails cần lưu ý là có khách hàng là người tàn tật, nhưng dẫn theo chó trợ giúp của người tàn tật khác (nhiều khi những người này ở chung nahà, hàng xóm, ... nhờ người kia trông giúp chó cho mình, ...), thì điều này cũng trái luật, và người chủ tiệm có quyền từ chối dịch vụ đối với khách hàng này.
4. Nếu khách hàng đi cùng với chó trợ giúp của họ, thì các cơ sở kinh doanh, cơ quan chính phủ, tổ chức công ích KHÔNG được phép từ chối cho họ vào và dịch vụ đối với họ. Việc từ chối là vi phạm pháp luật, và có thể bị kiện.
5. Người khách hàng dẫn theo chó trợ giúp của họ vào tiệm và họ phải đảm bảo điều khiển được service dog của họ bằng các mệnh lệnh lời nói, ký hiệu, ánh mắt, ... Như vậy, trong trường hợp mà người chủ tiệm nhận thấy có dấu hiệu rõ rằng là người khách hàng không thể điều khiển được service dog của họ (vì một lý do nào đó, như service dog nổi điên...), và service dog này có thể gây nguy hiểm cho người khác (ngoại trừ việc di ứng), thì người chủ tiệm vẫn có quyền từ chối dịch vụ đối với người khách hàng này.
6. Thông thường. service dogs được đeo dấu hiệu riêng để nhận biết, thường là vòng cổ màu vàng. Tuy nhiên, cũng không loại trừ có khách hàng họ cố tình làm vậy để qua mặt chủ tiệm, nhằm đem chó không phải service dog của họ vào tiệm. Trong những trường hợp có nghi ngờ về việc cho dẫn theo của khách hàng có phải là cho dịch vụ hay không, người chủ tiệm hay thợ nails có thể chỉ được hỏi khách hàng 02 nội dung sau:
- Có phải chó này là động vật trợ giúp (service animals) được yêu cầu cần có cho trường hợp bị tàn tật không?
- Chó trợ giúp này được huấn luyện để trợ giúp những công việc nào?
Luật NGHIÊM CẤM người chủ tiệm hỏi khách hàng về những nội dung sau:
- Hỏi về tình trạng tàn tật của khách hàng;
- Đòi xem về hồ sơ sức khỏe của khách hàng;
- Đòi xem ID hay giấy chứng nhận huấn luyện của service dog;
- Đòi service dog phải biểu diễn kỹ năng trợ giúp.
7. Di ứng, và sợ chó không phải là lý do hợp lý để người chủ tiệm từ chối dịch vụ đối với khách hàng tàn tật có dẫn theo chó trợ giúp.
8. Người chủ tiệm chỉ được quyền từ chối dịch vụ đối với khách hàng là người tàn tật có dẫn theo chó trợ giúp trong các trường hợp sau đây:
- Chó trợ giúp mất kiểm soát, và người chủ không thể dùng lệnh điều kiển để kiểm soát cho trợ giúp của họ được nữa; Tuy nhiên, nếu khách hàg đã đem service dog của họ ra khỏi tiệm, thì họ phải được phục vụ như những khách hàng khác.
- Mặc dù chó trợ giúp vẫn ở trọng trạng thái bình thường, nhưng người khách hàng là chủ của nó mất hay giảm khả năng điều kiển, kiểm soát service dog cũng họ vì tình trạng bịnh tật của họ, như bị heart attacks bất ngờ,... trong trường hợp này, người chủ tiệm có quyền từ chối dịch vụ hay cho phép khách hàng và chó trợ giúp của họ vào tiệm.
9. Quy định này cũng áp dụng đối với các cơ sở kinh doanh là nhà hàng, khách sạn, tiệm ăn.
10. Người chủ tiệm phải đảm bảo đối xử công bằng đối với khách hàng tàn tật có dẫn thẻo service dog của họ trong việc phục vụ, mức phí, hay bị cách ly từ những khách hàng bình thường khác.
11. Service dog được miễn phí giữ pet, hay deposit trong trường hợp các cơ sở kinh doanh có dịch vụ giữ thú cưng có thu phí.
12. Tuy nhiên, người chủ tiệm có thể yêu cầu người khách hàng bồi thường thiệt hại cho những tài sản, hay thương tích do service dog của họ gây ra đối với tài sản, thân thể thợ, khách hàng khác.
13. Người chủ tiệm không có nghĩa vụ phải phục vụ đồ ăn uống cho service dog của khách hàng.
Trong những bài viết sau, THLPHK sẽ phân tích chi tiết các kỳ thị, phân biệt đối xử khách đối với khách hàng mà chủ tiệm nails cần nên tránh để khỏi phải vướng vào kiện tụng.
(Bài viết này chỉ mang tính chất nghiên cứu, và KHÔNG phải là lời tư vấn pháp lý!)
TÌM HIỂU LUẬT PHÁP HOA KỲ nhận hướng dẫn cho chủ tiệm nails, thợ nails:
1. Luật Lao động liên quan đến nhân viên - nhà thầu độc lập; thuê mướn thợ; cách tính lương, giờ làm việc tối thiểu, làm thêm giờ (overtime) để khỏi bị Sở Thuế vụ và Bộ Lao động phạt.
2. Luật Di trú liên quan đến việc thuê mướn thợ nails từ Việt Nam.
3. Hướng dẫn về quy định những trường hợp chủ tiệm nails có quyền từ chối phục vụ khách hàng đúng luật.
4. Giới thiệu nhà cung cấp dụng cụ, mỹ phẩm ngành nails & beauty uy tín.
5. Hướng dẫn cách chuẩn bị chứng cứ và lý lẽ để biện hộ trước các vụ kiện của khách hàng.
6. Hướng dẫn quy định về vệ sinh, an toàn lao động trong tiệm.
7. Hỗ trợ giới tìm thợ cho tiệm nails có nhu cầu tuyển thợ.
8. Hỗ trợ phương án marketing để tiệm được nhiều khách hàng.
Quý vị muốn biết thêm chi tiết hay cần trợ giúp, vui lòng đừng ngại liên hệ với chúng tôi theo thông tin sau:
Tường Hứa
Phone/Viber/Zalo: 1-215-275-5428
Address: 9521 N Sharon Ave., Fresno, CA 93720
Email: hgtuong@yahoo.com

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Bộ luật Hình sự VN - Điều 79, 88, 258



Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
  1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  1. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
Điều 79 của Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 do Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 (sau đây gọi tắt là “BLHS 1999”) quy định về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.  Tội phạm nêu tại Điều 79 đó thuộc nhóm “các tội xâm phạm an ninh quốc gia” được quy định tại Chương XI của BLHS  1999.  Nguyên văn Điều 79 như sau:
3.      “Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
4.      1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;
5.      2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.”

Điều 258
Trích theo văn bản:
Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:
1.      Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2.      Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.